Dịch: Thứ dũng khí gọi là buông tay

OST Phong trung kì duyên (chuyển thể từ tiểu thuyết Đại Mạc Dao – Đồng Hoa). Phim không thật sự hay nhưng 3 soundtrack quá tuyệt vời, miêu tả được cả tâm trạng và tính cách của các nhân vật chính, rất xứng tầm với tác phẩm đọc rất enjoyable này.

Rất enjoyable bở vì Đại Mạc Dao là một tác phẩm tràn đầy hứng khởi, sôi sục nhiệt huyết của tuổi trẻ. Nó trẻ đến nỗi ngay cả đến bi kịch tưởng chừng như cẩu huyết nhất trên đời: yêu mà không được đáp lại, cũng được nhân vật đối mặt bằng rất nhiều nỗ lực, can đảm, dũng khí và cả tự tin.

Bài hát này hát về thứ dũng khí như vậy: dũng khí yêu một người hết tâm hết sức một cách trắng trợn, dũng khí hết lần này đến lần khác bị từ chối mà không hề oán hận, dũng khí buông tay nguyện cho chàng được hạnh phúc, dũng khí tin tưởng vào sự tiếp tục của đời sống, của hạnh phúc dù thiếu vắng một người từng vô cùng quan trọng với mình.

Cấu trúc bài hát gồm 3 phần tính theo số lần lặp lại của chorus, khá tương ứng với diễn biến tâm lý của nhân vật:

  1. Intro – Verse – Chorus
  2. Verse – Chorus
  3. Bridge – Chorus.

Chorus (em nghĩ rằng em có thể…) được lặp lại 3 lần, như ba lần Kim Ngọc gạt bỏ e thẹn, rồi gạt bỏ tự ái, rồi sau rốt gạt bỏ cả tự tôn để bày tỏ tình cảm của mình nhưng đều bị từ chối.

Lần đầu tiên, Kim Ngọc cố gắng tự mình vươn lên trở thành cây đại thụ đứng cạnh Mạnh Cửu, cùng chàng che mưa chắn gió. Lúc này nàng vẫn còn là cô gái hoang dã, ngây thơ chưa bị tổn thương về tinh cảm, tim đặt trên mặt (có lúc nhìn Mạnh Cửu mà chảy cả nước miếng =)))) nên ai cũng biết. Sau khi nàng thấy mình đã đủ vững mạnh cùng chàng gánh vác, mới đem sáo ra thổi khúc Việt nhân ca để chính thức thổ lộ với chàng. Thế mà Mạnh Cửu chỉ bảo: muội thổi không hay, khuya rồi nên về đi.

Tâm trạng lần này của Kim Ngọc không quá nặng nề. Nàng ra về, tự hỏi lại những điều chàng đã làm xem thật ra chàng có tình cảm với mình không, tại sao chàng lại không thành thật đối diện với tình cảm của mình. Cuối cùng nàng chọn cách thông cảm cho chàng, tiếp tục dùng thời gian và tình cảm của mình để làm chàng tin tưởng rằng nàng sẽ không chê bai chàng, không sợ hãi những khó khăn sắp tới, cũng bớt biểu lộ tình cảm theo cách đặt tim trên mặt như trước, cho chàng thời gian. Lúc này việc buông tay đối với nàng chỉ là để nắm chặt hơn, còn thật sự buông bỏ nếu có thì chỉ là một khả năng lóe qua trong đầu nàng, không có nhiều phân lượng cho lắm. Bởi vậy chorus của đoạn này mình dùng thì tương lai, vừa là dự định, vừa là khả năng.

em nghĩ rằng em sẽ thật sự có thể, có thể mở lòng, thương cho nỗi lòng của chàng, hiểu cho quyết định của chàng, đón nhận số mệnh sắp tới của chúng mình.

Lúc này thứ dũng khí gọi là buông tay ấy thật ra chỉ là bỏ đi cái tôi và sự kiêu hãnh trong tình cảm để có thể hiểu và thương cho sự bất đắc dĩ của đối phương, và bằng lòng chờ đợi, lấy lùi làm tiến.

Lần thứ 2, Kim Ngọc trồng và chờ cây kim ngân nở hoa, sau đó mời Mạnh Cửu đến cùng nhau ngắm hoa. Mượn ý một cành hai hoa của uyên ương đằng (tên khác của hoa kim ngân) để lần nữa thổ lộ tâm ý của mình. Lần này, Mạnh Cửu nói: không quen cùng người khác ngắm hoa, mong nàng tìm được người ngắm hoa cùng mình. Hoắc Khứ Bệnh làm đổ cả dàn hoa. Kim Ngọc cố gắng cứu chữa dàn hoa của mình, nhìn dàn hoa rụng dần mà chút niềm tin ít ỏi trong tim nàng cũng dần khô héo.

Lúc này việc từ bỏ không còn chỉ là một lựa chọn, mà là một con đường Cửu gia đã quyết định thay cho nàng, không đi không được. Nàng thật sự nghĩ mình phải chăng nên buông tay, nên thật sự bỏ qua đoạn tình cảm này, trong đó còn có cả sự tổn thương, sự mệt mỏi trước số phận nhưng vẫn còn trách móc, vẫn chưa thật sự cam tâm. Bởi vậy đoạn chorus này mình dịch ở thì hiện tại:

em nghĩ rằng em thật sự có thể, có thể buông tay, có thể bỏ qua cho sự cố chấp của chàng, có thể lượng thứ cho quyết định của chàng, có thể tiếp nhận số mệnh này của chúng mình.

Dũng khí buông tay lúc này chính là em đã làm hết những thứ em nghĩ em có thể làm rồi, nên em buộc phải cân nhắc đến lựa chọn buông tay dù chưa cam lòng, dù không chắc chắn, và đang rất lưỡng lự.

Lần thứ 3, Thiên Chiếu tới tìm nàng, khuyên nàng nên cố gắng thêm một lần nữa. Kim Ngọc đã nghe theo, nàng đã dẹp bỏ cả tự tôn để cầu xin Mạnh Cửu nghe nàng nói cho hết. Nói hết những tâm tư từ ngày đầu quen biết chàng, giả bệnh để được quan tâm, mời thầy đến học về Lão Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử để hiểu được tâm ý của chàng, kinh doanh phường xướng kỹ để nắm bắt tin tức, giúp Lý Nghiên để tạo dựng thế lực…May sao, lần này Mạnh Cửu cũng không từ chối nàng ngay tại trận, nhưng cuối cùng vẫn gửi cho nàng mấy chữ: xin lỗi. Nàng vẫn cố gắng tìm đến, thổi thêm một lần khúc Bạch đầu ngâm, nhưng cũng không có tác dụng gì.

Lúc này, sự từ bỏ đối với nàng là việc duy nhất có thể làm, vì nàng đã làm tất cả mọi thứ để tiến vào thế giới của chàng nhưng đều thất bại. Lúc này xuất hiện một đoạn bridge trước chorus: nàng không chỉ quyết định buông tay đoạn tình cảm này mà còn muốn triệt để biến mất khỏi Trường An, cắt đứt mọi liên hệ, quay về với những ngày tháng cô độc nơi sa mạc hoang vu không người, làm bạn với bầy sói. Bởi vì nàng đã quyết định nên đoạn chorus này được dịch ở thì quá khứ:

Là vì lòng chàng không đủ kiên cường, hay vì em quá sợ tổn thương?

Tình sâu, duyên cạn. Nhớ đến những ngày tháng cô độc lang thang cùng trời cuối đất.

Em nghĩ em thật sự đã có thể, đã có thể buông tay, đã có thể thương cho sự cố chấp của chàng, tha thứ cho quyết định của chàng, cũng đã có thể chấp nhận số mệnh (cô độc) này của chính mình.

Lúc này cái dũng khí gọi là buông tay chính là nàng đã làm hết tất cả những gì nàng nghĩ có thể làm, lẫn nhưng thứ nàng từng nghĩ không thể làm, đã làm hết những thứ có thể nghĩ tới được. Tuy lòng nàng vẫn phát sinh những câu hỏi, nhưng nàng đều có thể tự cho mình câu trả lời, thế nhưng lúc này trả lời hay không cũng không còn quan trọng nữa, không còn ý nghĩa gì nữa.

Dũng khí này vừa là sự bất lực mà cũng là sự thanh thản, vừa là sợ hãi quay về với những ngày tháng trống vắng cô độc không còn chàng, lại cũng là sự kiên cường tin tưởng chính mình cuối cùng sẽ có thể đi qua.
Bởi vì em đã từng vẫn sống mà không có chàng, phải thế không?

Saigon June 14, 2019

Intro:

有好多事情不需要證明

Yǒu hǎoduō shìqíng bù xūyào zhèngmíng

(hữu hảo đa sự tình bất nhu yếu chứng minh)

Có nhiều thứ không cần phải chứng minh

就像怎麼去證明我愛你

jiù xiàng zěnme qù zhèngmíng wǒ ài nǐ

(tựu tượng chẩm ma khứ chứng minh ngã ái nhĩ)

ví như việc chứng minh em yêu chàng

如果錯過一時就會錯過了一生

rúguǒ cuòguò yīshí jiù huì cuòguòle yīshēng

(như quả thác quá nhất thời tựu hội thác quá liễu nhất sinh)

nếu như bỏ lỡ một lần cuối cùng phải bỏ lỡ một đời

是否 該更誠實的面對感情

shìfǒu gāi gèng chéngshí de miàn duì gǎnqíng

(thị phủ cai canh thành thật đích diện đối cảm tình)

phải chăng nên thành thật đối diện với tình cảm của mình?

Verse 1:

以為時間能溶解你的心

yǐwéi shíjiān néng róngjiě nǐ de xīn

(dĩ vi thời gian năng dung giải nhĩ đích tâm)

Vốn dĩ nghĩ rằng thời gian có thể lay chuyển trái tim chàng

固執的相信有一天你終會清醒

gùzhí de xiāngxìn yǒu yītiān nǐ zhōng huì qīngxǐng

(cố chấp đích tương tín hữu nhất thiên nhĩ chung hội thanh tỉnh)

cố chấp tin rằng có một ngày chàng sẽ nhận ra

怎麼卻貼近都只能一個人前進

zěnme què tiējìn dōu zhǐ néng yīgèrén qiánjìn

(chẩm ma khước thiếp cận đô chích năng chích cá nhân tiệm tiến)

nhưng không cách nào tiến vào được lòng chàng

也許 放開才能抓得更緊

yěxǔ fàng kāi cáinéng zhuā dé gèng jǐn

(dã hứa phóng khai tài năng trảo đắc cánh khẩn)

nên em sẽ buông lỏng để nắm chặt hơn

Chorus 1:

我想我是真的可以

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de kěyǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích khả dĩ)

em nghĩ rằng em sẽ thật sự có thể

可以放棄 愛你的任性

kěyǐ fàngqì ài nǐ de rènxìng

(khả dĩ phóng khí ái nhĩ đích nhậm tính)

có thể mở lòng, thương cho nỗi lòng riêng của của chàng

我可以體諒你的決定

wǒ kěyǐ tǐliàng nǐ de juédìng

(ngã khả dĩ thể lượng nhĩ đích quyết định)

có thể hiểu cho cho quyết định của chàng

我可以接受我的宿命

wǒ kěyǐ jiēshòu wǒ de sùmìng

(ngã khả dĩ tiếp thụ ngã đích túc mệnh)

và sẽ đón nhận số mệnh của chúng mình

我想我是真的愛你

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de ài nǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích ái nhĩ)

Em nghĩ em thật sự rất yêu chàng

再痛也會 真心地祝福你

zài tòng yě huì zhēnxīn dì zhùfú nǐ

(tái thống dã hội chân tâm địa chúc phúc nhĩ)

bất chấp nỗi đau, từ sâu trong tâm khảm em vẫn mong chàng được hạnh phúc

愛一個人需要勇氣

ài yīgèrén xūyào yǒngqì

(ái nhất nhân nhu yếu dũng khí)

Yêu một người cần phải có dũng khí,

聽說過有一種勇氣就叫做放棄

tīng shuōguò yǒu yīzhǒng yǒngqì jiù jiàozuò fàngqì

(thính thuyết hữu nhất chủng dũng khí tựu khiếu tố phóng khí)

nghe nói có một thứ dũng khí gọi là buông tay

Verse 2:

以為時間能溶解你的心

yǐwéi shíjiān néng róngjiě nǐ de xīn

(dĩ vi thời gian năng dung giải nhĩ đích tâm)

Vốn nghĩ thời gian có thể cảm động trái tim chàng

固執的相信有一天你終會清醒

gùzhí de xiāngxìn yǒu yītiān nǐ zhōng huì qīngxǐng

(cố chấp đích tương tín hữu nhất thiên nhĩ chung hội thanh tỉnh)

cố chấp tin tưởng có ngày chàng sẽ nhận ra

卻怎麼貼近都只能一個人前進

què zěnme tiējìn dōu zhǐ néng yīgèrén qiánjìn

(khước chẩm ma thiếp cận đô chích năng chích cá nhân tiệm tiến)

vậy mà không cách nào tiến vào được thế giới của chàng

也許 放開才能抓得更緊

yěxǔ fàng kāi cáinéng zhuā dé gèng jǐn

(dã hứa phóng khai tài năng trảo đắc cánh khẩn)

đã vậy chắc em đành buông tay để nắm lấy hạnh phúc

Chorus 2:

我想我是真的可以

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de kěyǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích khả dĩ)

em nghĩ rằng em thật sự có thể

可以放棄 愛你的任性

kěyǐ fàngqì ài nǐ de rènxìng

(khả dĩ phóng khí ái nhĩ đích nhậm tính)

có thể buông tay, có thể bỏ qua cho sự cố chấp của chàng

我可以體諒你的決定

wǒ kěyǐ tǐliàng nǐ de juédìng

(ngã khả dĩ thể lượng nhĩ đích quyết định)

có thể lượng thứ cho quyết định của chàng

我可以接受我的宿命

wǒ kěyǐ jiēshòu wǒ de sùmìng

(ngã khả dĩ tiếp thụ ngã đích túc mệnh)

và tiếp nhận số mệnh này của chúng mình

我想我是真的愛你

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de ài nǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích ái nhĩ)

Em nghĩ em thật sự rất yêu chàng

再痛也會 真心地祝福你

zài tòng yě huì zhēnxīn dì zhùfú nǐ

(tái thống dã hội chân tâm địa chúc phúc nhĩ)

tuy nỗi đau dằn vặt nhưng từ sâu trong tâm khảm em vẫn luôn mong chàng hạnh phúc

愛一個人需要勇氣

ài yīgèrén xūyào yǒngqì

(ái nhất nhân nhu yếu dũng khí)

Yêu một người cần phải có dũng khí

聽說過有一種勇氣就叫做放棄

tīng shuōguò yǒu yīzhǒng yǒngqì jiù jiàozuò fàngqì

(thính thuyết hữu nhất chủng dũng khí tựu khiếu tố phóng khí)

em từng nghe nói có một thứ dũng khí gọi là buông tay

Bridge:

該怪你不夠堅強 還是我太怕受傷

gāi guài nǐ bùgòu jiānqiáng háishì wǒ tài pà shòushāng

(cai quái nhĩ bất câu kiên cường hoàn thị ngã thái phạ thọ thương)

là vì chàng không đủ kiên cường hay tại vì em quá sợ tổn thương?

情深緣淺 獨留天涯海角的眷戀

qíng shēn yuán qiǎn dú liú tiānyáhǎijiǎo de juànliàn

(tình thâm duyên thiển, độc lưu thiên nhai hải giác đích quyến luyến)

tình sâu duyên cạn, nhớ đến những ngày tháng cô độc lang thang cùng trời cuối đất.

Chorus 3:

我想我是真的可以

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de kěyǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích khả dĩ)

Em nghĩ em thật sự đã có thể

可以放棄 愛你的任性

kěyǐ fàngqì ài nǐ de rènxìng

(khả dĩ phóng khí, ái nhĩ đích nhậm tính)

đã có thể buông tay, đã có thể thương cho sự cố chấp của chàng

我可以體諒你的決定

wǒ kěyǐ tǐliàng nǐ de juédìng

(ngã khả dĩ thể lượng nhĩ đích quyết định)

đã có thể tha thứ cho quyết định của chàng

我可以接受我的宿命

wǒ kěyǐ jiēshòu wǒ de sùmìng

(ngã khả dĩ tiếp thụ ngã đích túc mệnh)

cũng đã có thể chấp nhận số mệnh này của chính mình

我想我是真的愛你

wǒ xiǎng wǒ shì zhēn de ài nǐ

(ngã tưởng ngã thị chân đích ái nhĩ)

Em nghĩ em đã thật sự đã rất yêu chàng

再痛也會 真心地祝福你

zài tòng yě huì zhēnxīn dì zhùfú nǐ

(tái thống dã hội chân tâm địa chúc phúc nhĩ)

bởi ngay cả lúc đau đớn nhất, từ tận đáy lòng em vẫn nguyện cho chàng được hạnh phúc

愛一個人需要勇氣

ài yīgèrén xūyào yǒngqì

(ái nhất cá nhân nhu yếu dũng khí)

yêu một người cần rất nhiều dũng khí

聽說過有一種勇氣就叫做放棄

tīng shuōguò yǒu yīzhǒng yǒngqì jiù jiàozuò fàngqì

(thính thuyết quá hữu nhất chủng dũng khí tựu khiếu tố phóng khí)

em từng nghe nói rằng còn có một thứ dũng khí gọi là buông tay.

And I can’t believe in the magic called Google

Hôm nay lên Google dịch kết hợp từ điển Hán Việt trong thivien.net để học lyrics bài: 聽說過有一種勇氣就叫做放棄 (nghe nói có thứ dũng khí gọi là buông tay), OST Phong trung kỳ duyên.

Trong lời bài hát, Google dịch 任性 (nhậm tính) là ‘waywardness’, nhìn vào thấy quá thú vị các bạn ạ. Tra kĩ nghĩa thông dụng của waywardness xong phải nói là hoảng hồn luôn. Tinh tế quá mức chịu đựng, quá mức cho phép luôn rồi í, anh trai yêu ạ. Hun. Hun. Hun.

‘Waywardness’ là một từ ghép, hầu như chưa gặp bao giờ ngay cả trong tiếng Anh văn bản. Nhưng nghĩa của nó rất sát và đặc biệt phù hợp với từ ‘nhậm tính’ trong ngữ cảnh này. Thậm chí còn rảnh quá đi tra riêng từ 任性, Google translate cho ra ‘capriciousness’ như là kết quả đầu tiên, và ‘willfulness’ là kết quả thứ 2 mà không hề thấy ‘waywardness’. Điều này cho thấy Google đã có một vốn từ dịch đa dạng không phải lúc nào cũng show ra, và có khả năng chọn lựa từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh (chứ không phải chỉ độ phổ biến) rồi bà con ạ, mà còn lựa hơi bị chuẩn. Kinh chưa?

Nhớ ngày nào hồi Google dịch mới ra đời, chất lượng dịch còn ngây ngô chất phác quá thể. Tới mức mấy đứa dấm dở ngoại ngữ còn đem anh í ra làm trò cười thường xuyên (mặc dù chúng nó là đám xài chính). Ngày nào lòng tin vào tiềm năng của Google dịch, tin rằng một ngày nào đó anh í sẽ xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, và người ta sẽ có thể tự học ngoại ngữ cùng Google, chỉ đơn thuần là lòng tin của một fan girl, và tầm nhìn của một người thích nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ.

Ngày nay, cũng với niềm tin đó vậy mà mình vẫn phải thường xuyên ngạc nhiên vào khả năng kết nối trí tuệ toàn cầu và năng lực học của Google. Wow! Google changed the world.

Dù hiện tại Google translate chỉ mới khá ổn ở việc chuyển ngữ Tiếng Anh sang tiếng khác và ngược lại, vẫn đang rất kém chuyển ngữ các tiếng khác trực tiếp với nhau, nhưng đây không phải big problem. Mình tin một ngày thế giới sẽ không cần translator là người để hiểu văn bản và hội thoại không phải tiếng mẹ đẻ nữa, và ngày đó sẽ rất gần đây thôi. Và lúc đó những đứa hay tự hào về khả năng ngôn ngữ như mình sẽ không còn xem đó là một lợi thế gì quá là big-deal nữa.

Nói cực đoan kiểu fan girl một tí thì: ngày xưa muốn cưới Wikipedia, nhưng ngày nay chỉ một lòng muốn theo anh Google.  ‘Cause I can’t handle this online world without him! Hahaha.

 

PS: Nói một chút về từ ‘nhậm tính’ và ngữ cảnh.

‘Nhậm’ như một tính từ thì có nghĩa là mặc ý, mặc sức (nhậm ý), như một động từ thì nó có nghĩa là gánh vác (nhậm chức). Nhìn chung nghĩ tới từ này mình nghĩ tới một cây tùng đứng giữa trời gió to, mặc cho gió thổi tán cây xao xác nhưng thân cây không hề suy suyển. Nhà văn Kim Dung khi đặt tên cho ‘Nhậm Ngã Hành’ cũng lấy chữa nhậm này, với nghĩa: đường ông thì ông đi, ông kệ bố bọn mày. =)))))

‘Tính’ thì lại khá thâm thúy. 性 gồm bộ tâm bên trái và từ sinh (trong sinh sản). Ý của từ tính ở đây là là bản tánh tự nhiên, là tính chất sanh ra đã có của sự vật, con người, vì vậy cũng khó mà đổi thay được.

Trong bài hát ‘nhậm tính’ lại nằm trong đoạn:

我想我是真的可以 (em nghĩ rằng em đã thật sự có thể)

可以放棄 愛你的任性 (có thể buông tay, có thể thương cả sự cố chấp của anh)

我可以體諒你的決定 (em đã có thể lượng thứ cho quyết định của anh)

我可以接受我的宿命 ( và tiếp nhận số mệnh của mình)

Như vậy ‘nhậm tính’ ở đây có thể được hiểu đại khái là sự cố chấp (của bạn Mạnh Cửu), cái tính cách (gốc -ness) mà con đường tôi lựa chọn cho cả em và tôi, tin tưởng là đúng thì tôi cứ mặc sức đi tới (wayward) không thể lay chuyển được (dù bằng cả tấm chân tình của Kim Ngọc).